Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Tình hình KT - XH tỉnh Hà Giang 9 tháng năm 2019

Tình hình KT - XH tỉnh Hà Giang 9 tháng năm 2019

1. Sản xuất Nông lâm nghiệp

- Trồng trọt: Sản xuất vụ Mùa năm 2019 được triển khai trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, đầu vụ gieo trồng nắng nóng, giữa vụ một số địa phương xảy ra mưa lớn kéo dài gây ngập úng, lũ quét và sạt lở vùi lấp một số diện tích cây trồng; xuất hiện sâu bệnh hại trên một số cây trồng chính. Các cơ quan chức năng đã chủ động triển khai các biện pháp diệt trừ sâu bệnh gây hại, không để lây lan ảnh hưởng tới sự phát triển của cây trồng. Đến nay, đã kết thúc gieo cấy, tập trung chăm sóc các loại cây vụ Mùa, trong đó một số địa phương đang thực hiện thu hoạch diện tích lúa Mùa sớm. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 176.922 ha, tăng 816 ha so với năm 2018. Tổng sản lượng lương thực có hạt thu hoạch năm 2019 ước đạt 403.977 tấn, giảm 0,32% so với năm 2018 tương đương 1.298 tấn, đạt 99,6% kế hoạch. Giá trị thu hoạch trên/ha đất canh tác cây hàng năm ước đạt 44,76 triệu đồng (tăng 0,37 triệu đồng so với năm 2018), đạt 99% KH.

- Chăn nuôi: Tập trung tuyên truyền và hướng dẫn các hộ chăn nuôi triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh và chống rét cho gia súc, gia cầm. Triển khai công tác tiêm phòng theo kế hoạch, đã tổ chức tiêm phòng được 1.166.483 liều vắc xin các loại cho đàn gia súc và 23.090 liều vắc xin các loại cho đàn gia cầm. Lũy kế đến tháng 9, tổng đàn trâu có 170.295 con, giảm 1,48% so với cùng kỳ, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 3.201 tấn, tăng 5,24%; tổng đàn bò có 117.650 con, tăng 2,97%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 2.583 tấn, tăng 4,33%; tổng đàn lợn 566.450 con, giảm 1,6%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 23.245 tấn, tăng 0,02%; đàn gia cầm 5.096,5 nghìn con, tăng 2,99%, sản lượng thịt hơi xuất chuồng 5.763 tấn, tăng 1,06%. Toàn tỉnh hiện có 25 trang trại, 229 gia trại chăn nuôi.

Về tình hình dịch tả lợn Châu Phi: Từ tháng 5/2019, dịch đã xuất hiện trên địa bàn tỉnh và lây lan nhanh trên diện rộng, gây thiệt hại lớn cho các cơ sở và các hộ chăn nuôi lợn. Các sở, ngành chức năng đã phối hợp chặt chẽ với các huyện trong việc thực hiện các biện pháp bao vây, dập dịch, khống chế dịch. Đến ngày 25/9/2019, tổng số lợn buộc phải tiêu huỷ do dịch bệnh là 7.869 con với trọng lượng 341,15 tấn. Toàn tỉnh có 67 xã thuộc 07 huyện phát sinh dịch, trong đó: 31 xã đã qua 30 ngày không phát sinh dịch (có 23 xã đã công bố hết dịch và 08 xã đang chuẩn bị làm thủ tục công bố hết dịch); còn 34 xã còn dịch (trong đó có 14 xã đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh). Tỉnh đã thực hiện hỗ trợ cho các hộ dân có lợn mắc bệnh phải tiêu hủy với số tiền đã cấp là 2,272 tỷ đồng, thực hiện chi trả được 1,515 tỷ đồng. Đã có 169 hộ dân tại một số huyện chủ động tái đàn và chuyển đổi mục đích chăn nuôi sang nuôi gia cầm.

- Lâm nghiệp: Tập trung rà soát, khảo sát thiết kế, lập hồ sơ kỹ thuật và chăm sóc cây giống phục vụ kế hoạch trồng rừng năm 2019. Các vườn ươm trên địa bàn tỉnh đã chủ động gieo ươm cây giống được 8.910 nghìn cây các loại, đảm bảo đủ lượng cây giống cung ứng cho các đơn vị trồng rừng. Diện tích trồng rừng mới được 6.040 ha. Triển khai chăm sóc rừng trồng được 3.844,9 ha; khoán bảo vệ rừng 173.696,4 ha. Công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng được tăng cường.  Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng khô hanh kéo dài đã xảy ra 02 vụ cháy làm thiệt hại 5,42 ha. Công tác quản lý lâm sản tiếp tục được thắt chặt, đã phát hiện 216 vụ, giảm 25 vụ so với cùng kỳ, đã xử lý 218 vụ, tịch thu 162,4 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính 2,254 tỷ đồng.

- Kết quả thực hiện đối với một số mô hình sản xuất điển hình: (1) Thực hiện xây dựng mô hình thâm canh tổng hợp, áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lạc tại các vùng trồng chính với quy mô 15 ha/72 hộ tham gia; Số điểm trình diễn: 01 điểm tại xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang. Năng suất lạc mô hình đạt 40 tạ/ha, cao hơn đại trà 7 tạ/ha. Hiệu quả kinh tế tăng trên 25%; (2) Nhân rộng mô hình sản xuất lúa Japonica với tổng diện tích 508 ha, năng suất lúa của mô hình ước đạt trên 61 tạ/ha, cao hơn so với sản xuất lúa đại trà. Lợi nhuận từ 25 – 30 triệu đồng/ha.  (3) Dự án hỗ trợ nuôi bò cái sinh sản do Công ty Thủy điện sông Chảy 6 tài trợ. Số lượng 50 con cho 50 hộ tại thôn Tân Sơn - xã Tả Nhìu và thôn Cốc Sọoc - xã Thèn Phàng; hiện nay số bê sinh ra được 16 con; số bò cái được thụ tinh nhân tạo 8 con.  (4) Mô hình trồng dưa hấu với tổng diện tích 53,8 ha tại các xã Phong Quang, Trung Thành và Thanh Thủy huyện Vị Xuyên. Hiện nay, dưa đang thu hoạch quả, năng suất ước đạt 18 tấn/ha, sản lượng ước đạt 968,4 tấn. Lợi nhuận từ dưa hấu ước đạt 40 - 45 triệu đồng/ha, cao hơn canh tác lúa ngô từ 15 - 20 triệu đồng/ha.

- Tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch mỗi huyện 1 xã, mỗi xã 1 thôn điển hình về phát triển kinh tế nông nghiệp: Đến nay có 36 xã với 321 thôn/10 huyện, thành phố đã triển khai xây dựng xã, thôn điển hình mẫu về phát triển kinh tế nông nghiệp; có 20 xã/45 thôn đạt tiêu chí.

- Đề án Mỗi xã một sản phẩm “OCOP”: Tập trung triển khai, tuyên truyền chương trình; Ban hành hướng dẫn tạm thời thực hiện chu trình OCOP, bộ tiêu chí đánh giá và xếp hạng sản phẩm. Đến nay đã rà soát lựa chọn được 201 sản phẩm của 07 doanh nghiệp, 89 HTX, 22 THT và 31 hộ gia đình để triển khai thực hiện trong năm 2019. Tổ chức xây dựng các gian hàng trưng bày, bán sản phẩm phục vụ khách du lịch tại các huyện, thành phố.

2. Công tác xây dựng nông thôn mới và qui tụ dân cư

- Trong 9 tháng đầu năm, tổ chức ra quân xây dựng nông thôn mới được 261 lượt với 16.222 người tham gia; thực hiện mở mới đường đất đá 92,15 km; nâng cấp đường giao thông các loại 399,94 km; làm đường giao thông nông thôn 251,47 km; cải tạo, xây dựng 116 phòng học, 43 nhà văn hóa thôn; nhân dân hiến 217.891 m2 đất, đóng góp 160.457 ngày công lao động; huy động quyên hóp, ủng hộ xây dựng nông thôn mới được 13,797 tỷ đồng. Đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn trong năm 2019, có 01 xã đạt 16 tiêu chí (xã Tùng Bá); 02 xã đạt 15 tiêu chí (xã Tân Bắc, Phương Tiến); 02 xã đạt 14 tiêu chí (Hùng An, Kim Ngọc). Dự kiến đến hết tháng 11 sẽ hoàn thành 100% tiêu chí theo kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh hiện còn 50 xã đạt dưới 9 tiêu chí (trong đó: có 24 xã đạt 8 tiêu chí; 15 xã đạt 7 tiêu chí; 9 xã đạt 6 tiêu chí; 2 xã đạt 5 tiêu chí).

- Thực hiện rà soát, xây dựng các phương án triển khai chương trình, phấn đấu về đích trước 01 năm so với Nghị quyết Đảng bộ tỉnh, hoàn thành 3.269 hộ trong năm 2019. Trong 9 tháng đã di chuyển, ổn định được 3.145 hộ, đạt 96,2% kế hoạch; tổng vốn đã giải ngân trên 57 tỷ đồng (đạt 95% kế hoạch).

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp phát triển ổn định. Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh) 9 tháng đầu năm đạt 2.754,3 tỷ đồng, tăng 10,29% so với cùng kỳ; theo giá hiện hành ước đạt 4.630,2 tỷ đồng, tăng 12,08% so với cùng kỳ, đạt 77,2% kế hoạch. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 9,7% so cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 13,5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,62%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước tăng 17,59%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 0,69%. Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng khá so với cùng kỳ như: Chè chế biến (tăng 7,91%); Ván ép từ gỗ và vật liệu tương tự (tăng 17,67%); Sản phẩm bằng vật liệu tết bện (tăng 15,18%); Tấm, lát, lá mỏng bằng chì (tăng 241,2%); Bê tông tươi (tăng 23,75%); cửa ra vào bằng sắt, thép (tăng 16,68%); điện sản xuất (tăng 18,3%);…Tuy nhiên có một số sản phẩm sản xuất giảm so với cùng kỳ như Quặng sắt và tinh quặng sắt (giảm 7,12%); Xe có động cơ (giảm 60,27%.

4. Giao thông – xây dựng

- Thực hiện tốt công tác duy tu bảo dưỡng thường xuyên các tuyến quốc lộ, tuyến đường tỉnh và đường huyện đảm bảo an toàn và thông suốt. Tỷ lệ đường trục thôn được cứng hóa đạt chuẩn đạt 31,5% (đạt 94% kế hoạch). Tổ chức 22 cuộc kiểm tra trách nhiệm bảo vệ công trình giao thông, hành lang an toàn đường bộ, đảm bảo trật tự an toàn giao thông và các quy định về vận tải trên các tuyến đường. Tổ chức đoàn công tác của tỉnh làm việc với Lãnh đạo tỉnh Yên Bái để thống nhất một số nội dung về dự án đường nối cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn thuộc địa phận tỉnh Yên Bái) đến Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy, Hà Giang.  

- Công tác quản lý về đầu tư xây dựng được đẩy mạnh; tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm như: Dự án Xây dựng khu xử lý rác thải hợp vệ sinh tỉnh Hà Giang; Dự án Xây dựng cầu Phương Tiến, huyện Vị Xuyên; Dự án Tu bổ, mở rộng, quy tập nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên (giai đoạn I); Dự án Xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới tại trung tâm xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn (Giai đoạn I); Dự án Đường giao thông liên kết các vùng phát triển kinh tế - xã hội phía Đông tỉnh Hà Giang, giáp ranh tỉnh Cao Bằng (đường tỉnh Ngọc Đường – Tùng Bá – Tráng Kìm); Dự án Nâng cấp đường Km 90 (đường Bắc Quang  - Xín Mần đi cửa khẩu Xín Mần và Mốc 198 huyện Xín Mần...). Triển khai dự án sửa chữa cấp bách Cầu Yên Biên II, thành phố Hà Giang. Tổ chức nghiệm thu đưa 24 công trình vào sử dụng. Giá trị sản xuất xây dựng (giá so sánh) ước 9 tháng đầu năm đạt 3.156,6 tỷ đồng, tăng 10,31% so với cùng kỳ (ước theo giá hiện hành là 4.456,7 tỷ đồng, tăng 9,94% so với cùng kỳ). Tổng vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn tỉnh ước đạt 6.801,1 tỷ đồng, tăng 8,92% so với cùng kỳ năm trước, đạt 66,7% kế hoạch, trong đó: Vốn NSNN 2.459 tỷ đồng, tăng 33,53%; vốn ngoài nhà nước 4.335,8 tỷ đồng, giảm 1,5%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 6,3 tỷ đồng.

5. Thương mại, dịch vụ và du lịch

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2019 ước đạt 7.833 tỷ đồng, tăng 14,13% so với cùng kỳ; trong đó: Thương nghiệp 6.023,9 tỷ đồng, tăng 15,12%; dịch vụ lưu trú 94,9 tỷ đồng, tăng 13,86%; dịch vụ ăn uống 1.105,1 tỷ đồng, tăng 11,78%; du lịch lữ hành 35,8 tỷ đồng, tăng 14,87%; dịch vụ khác 573,3 tỷ đồng, tăng 8,74%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 1,24% so với cùng kỳ.

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 266,4 triệu USD tăng 4,31% so với cùng kỳ, đạt 48,44% kế hoạch năm. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 209,6 triệu USD, giảm 1,27% so với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu ước đạt 56,8 triệu USD, tăng 31,79% so với cùng kỳ năm trước. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 159 tỷ đồng (đạt 79,6% kế hoạch, tăng 41% so với cùng kỳ 2018).

- Hoạt động kinh doanh vận tải cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá phục vụ sản xuất, đời sống và đi lại của nhân dân. Doanh thu vận tải ước đạt 466,6 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,6%. Khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 1,822 triệu tấn, tăng 9,6%; khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt 82,4 triệu tấn.km, tăng 14,2%. Khối lượng hành khách vận chuyển đạt 2,209 triệu người, tăng 16,3%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 328 triệu người.km, tăng 21,0%.

- Công tác xúc tiến quảng bá du lịch được tăng cường, đã tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến quảng bá du lịch “Hà Giang – Di sản và hoa” tại Khánh Hòa, Hội nghị xúc tiến du lịch tại tỉnh Vân Nam - Trung Quốc; tổ chức Tuần văn hóa du lịch “Qua những miền di sản Ruộng bậc thang” tại Hoàng Su Phì với chuỗi các sự kiện độc đáo như: Cuộc thi Tea Masters Cup Việt Nam năm 2019, Sự kiện dù lượn với chủ đề Bay trên bậc thang vàng, Hội thi duyên dáng các dân tộc miền Tây tỉnh Hà Giang năm 2019… Xây dựng chương trình tuor, tuyến du lịch, khảo sát thu thập thông tin, hình ảnh dịch vụ tại một số làng văn hóa du lịch cộng đồng để thông tin đến du khách. Trong 9 tháng, lượng khách du lịch đến Hà Giang đạt 948.470 lượt, tăng 2,56% so với cùng kỳ, đạt 73% kế hoạch; trong đó khách quốc tế là 118.735 lượt, khách nội địa là 829.735 lượt. Tổng thu từ khách du lịch đạt 1.004,04 tỷ đồng.

6. Thu, chi ngân sách nhà nước và đầu tư công

a) Thu, chi ngân sách nhà nước

- Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng đạt 11.531 tỷ đồng (điều tiết về NSTW 304 tỷ đồng; NS địa phương hưởng 11.227 tỷ đồng). Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 1.420 tỷ đồng, đạt 64,5% kế hoạch năm. Trong đó, thu nội địa 1.215 tỷ đồng, đạt 62,5% kế hoạch; có 04 huyện (gồm: huyện Hoàng Su Phì, Yên Minh, Xín Mần, Bắc Mê) có số thu đạt trên 70% kế hoạch, trong đó có huyện Yên Minh đạt cao nhất (đạt 78,3%); các huyện còn lại số thu đạt thấp, trong đó thấp nhất là huyện Đồng Văn (32,2%) do số thu tiền sử dụng đất đạt thấp so với kế hoạch. Theo sắc thuế thu, có 9/13 khoản thu đạt trên 75% kế hoạch; 04 khoản thu còn lại thực hiện thấp như: thu tiền sử dụng đất (24,2%); thu từ khu vực ngoài quốc doanh (58,4%); thuế bảo vệ môi trường và thu phí, lệ phí (59%).

- Tổng chi ngân sách địa phương là 9.743 tỷ đồng, đạt 66% dự toán, trong đó: chi đầu tư phát triển 2.708 tỷ đồng, chi thường xuyên 6.924 tỷ đồng.

b) Đầu tư công

- Tổng vốn đầu tư phát triển do nhà nước quản lý năm 2019 là 4.645,618 tỷ đồng. Bao gồm: Nguồn vốn trong cân đối ngân sách địa phương 3.965,845 tỷ đồng (trong đó: nguồn vốn cân đối NSĐP, MTQG, TPCP, Dự phòng NSTW là 3.469,846 tỷ đồng; Chi sự nghiệp có tính chất đầu tư là 495,999 tỷ đồng); Nguồn vốn nước ngoài là 679,773 tỷ đồng.

- Giải ngân 9 tháng đầu năm ước đạt 2.634,18 tỷ đồng (đạt 43,3% kế hoạch). Trong đó: Nguồn vốn đầu tư trong cân đối đạt 547,013 tỷ đồng, đạt 57,1%; Nguồn vốn chương trình MTQG đạt 606,674 tỷ đồng, đạt 50% KH; Các nguồn vốn năm 2018 kéo dài sang năm 2019 dạt 263,151 tỷ đồng, đạt 26%; Nguồn sự nghiệp có tính chất đầu tư là 294,384 tỷ đồng, đạt 59%. Nguồn vốn nước ngoài đạt 92,845 tỷ đồng, đạt 14% KH.

- Đã vận động, thu hút thành công dự án “Đầu tư và đổi mới dịch vụ y tế cơ sở” với tổng vốn 9,54 triệu USD. Hiện đang vận động, thu hút 04 dự án ODA. Quản lý và sử dụng có hiệu quả 21 chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Kết quả giải ngân đến nay đạt 177,326 tỷ đồng (trong đó: Vốn đối ứng là 21,828 tỷ đồng, vốn ODA là 155,498 tỷ đồng), đạt tỷ lệ giải ngân 32%. Ngoài ra, đã vận động và tiếp nhận mới 09 chương trình, dự án sử dụng vốn viện trợ phi chính phủ nước ngoài với tổng vốn 31,022 tỷ đồng, nâng tổng số chương trình, dự án sử dụng vốn viện trợ phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh lên 18 chương trình, dự án với tổng số viện trợ là 63,128 tỷ đồng.

7. Hoạt động tín dụng

- Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng đến hết tháng 9 ước đạt 21.826 tỷ đồng, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 11.561 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ, tương đương 1.406 tỷ đồng. Tổng đầu tư vốn tín dụng cho nền kinh tế ước đạt 20.800 tỷ đồng, tăng 5,63% so với cùng kỳ, tương đương tăng 1.109 tỷ đồng; trong 9 tháng đã tăng thêm 776 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 3,88%. Dư nợ của một số chương trình tín dụng như sau:

+ Cho vay nông nghiệp, nông thôn: Ước đạt 13.372 tỷ đồng; cùng kỳ năm trước tăng 1.028 tỷ; so với 31/12/2018 tăng 494 tỷ đồng. Trong đó: Đang thực hiện thu hồi các khoản cho vay theo Nghị quyết 209/2015/NQ-HĐND và 86/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, 9 tháng đã thu hồi được 105,4 tỷ đồng, dư nợ còn lại 485,6 tỷ đồng, phát sinh nợ xấu 60 triệu đồng (chiếm 0,01 dư nợ); Cho vay theo Nghị quyết 29/2018/NQ-HĐND, dư nợ ước đạt 12 tỷ đồng.

+ Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp: Dư nợ 3.960 tỷ đồng, tăng 08 tỷ đồng so với cuối năm 2018.

+ Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện triển khai 14 chương trình tín dụng chính sách cho các hộ nghèo và các đối tượng chính sách vay vốn phát triển sản xuất; tổng dư nợ của ngân hàng đạt 2.888 tỷ đồng, tăng 237 tỷ đồng so với cuối năm 2018.

- Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn, đến hết tháng 9 nợ xấu toàn địa bàn là 156,6 tỷ đồng, chiếm 0,75%/tổng đầu tư tín dụng, giảm 22 tỷ đồng so với cuối năm 2018.

- Hệ thống thanh toán tiếp tục được đẩy mạnh, chất lượng dịch vụ ngân hàng được nâng cao; 9 tháng đầu năm đã phát hành thêm 18.713 thẻ ATM, tăng 8,6% so với cuối năm 2018; tổng số máy ATM trên toàn địa bàn là 37 máy (9 tháng đầu năm tăng 03 máy); Tổng số máy POS (máy thanh toán bằng thẻ) là 149 máy (tăng 26 máy); Số đơn vị trả lương qua tài khoản là 1.302 đơn vị với 39.342 tài khoản.

8. Công tác thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp, HTX

a) Công tác thu hút đầu tư

Tăng cường các hoạt động hỗ trợ nhà đầu tư khảo sát thực địa, xúc tiến, thu hút đầu tư; tổ chức các buổi họp tư vấn để hướng dẫn các nhà đầu tư về trình tự thủ tục triển khai dự án; kịp thời cung cấp thông tin và đề xuất phương án giải quyết những khó khăn, vướng mắc về thủ tục cho các nhà đầu tư. Phối hợp với các nhà đầu tư thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ triển khai của một số dự án. Thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 26 dự án với tổng vốn 4.579,269 tỷ đồng, trong đó: 09 dự án lĩnh vực thủy điện với số vốn 2.811,821 tỷ đồng; 09 dự án lĩnh vực khoáng sản 57,145 tỷ đồng; 01 dự án lĩnh vực dược liệu 11,050 tỷ đồng; 06 lĩnh vực du lịch dịch vụ 1.646,475 tỷ đồng; 01 dự án lĩnh vực khác 52,778 tỷ đồng. Cấp điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư cho 16 dự án thuộc lĩnh vực thủy điện, trồng rừng, dược liệu, khoáng sản, lĩnh vực khác.

b) Phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã

- Đẩy mạnh hỗ trợ khởi nghiệp thông qua hoạt động tư vấn khởi nghiệp và chương trình cà phê khởi nghiệp. Kết quả, trong 9 tháng có 130 doanh nghiệp và 53 đơn vị trực thuộc thành lập mới; có 67 doanh nghiệp và 03 đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại; 72 doanh nghiệp và 07 đơn vị trực thuộc tạm ngừng hoạt động, 14 doanh nghiệp và 16 đơn vị trực thuộc giải thể. Lũy kế toàn tỉnh hiện có 1.869 doanh nghiệp và 544 đơn vị trực thuộc.

- Củng cố và kiện toàn các HTX trên địa bàn tỉnh, trong 9 tháng có 44 HTX thành lập mới; đến nay toàn tỉnh có 661 HTX, trong đó: 342 HTX nông lâm ngư nghiệp; 64 HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; 92 HTX xây dựng; 10 HTX tín dụng; 79 HTX thương mại, dịch vụ; 42 HTX giao thông vận tải; 32 HTX loại hình khác.

9. Phát triển khoa học công nghệ

Tập trung triển khai các nhiệm vụ đột phá về ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ và mở rộng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống; Mở rộng hợp tác đào tạo nguồn nhân lực và phát triển KHCN giữa tỉnh Hà Giang và Đại học Thái Nguyên giai đoạn 2019-2020. Tập trung xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản của tỉnh giai đoạn 2016-2020. Quản lý 50 đề tài, dự án khoa học (trong đó có 05 dự án sở hữu trí tuệ). Tổ chức thẩm định 14 đề tài, dự án, nghiệm thu 11 đề tài, dự án năm 2019. Công tác chuyển giao công nghệ tiếp tục được thực hiện tốt. Triển khai hoàn thành trên 90% khối lượng công việc của 03 dự án nước huyện Đồng Văn, dự kiến khánh thành trong tháng 10/2019. Tổ chức tập huấn về sở hữu trí tuệ và nghiệp vụ sáng kiến cho CCVC ngành giáo dục và đào tạo.

10. Quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo bệ môi trường

- Lĩnh vực quản lý đất đai được tăng cường, đã hoàn thành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của 11 huyện, thành phố; Tổng hợp và trình HĐND tỉnh thông qua danh mục các công trình, dự án thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đối với 133 công trình, dự án với tổng diện tích thu hồi đất 809,03 ha. Triển khai xây dựng bảng giá đất của tỉnh giai đoạn 2020-2024 (đã hoàn thành đánh giá hồ sơ thầu và phê duyệt đơn vị trúng thầu, tổ chức tập huấn chuyên môn cho các đơn vị). Cơ bản hoàn thành Xây dựng phương án tổng kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn tỉnh theo quy định của Luật Đất đai. Đã triển khai công tác đo đạc bản đồ tại các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Quang, Hoàng Su Phì theo kế hoạch được giao; triển khai công tác chỉnh lý biến động và lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận tại 04 phường thuộc thành phố Hà Giang.

- Công tác quản lý khoáng sản cũng được thực hiện chặt chẽ, đã cấp 10 giấy phép thăm dò khoáng sản; 07 giấy phép khai thác khoáng sản; thu hồi 05 dự án khai thác khoáng sản kim loại; xác nhận 06 đơn vị đăng ký khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới. Ngoài ra, đã cấp 12 giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, 05 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và phê duyệt 03 hồ sơ phương án cắm mốc hành lang bảo vệ hồ chứa thủy điện. Tổ chức 07 cuộc kiểm tra lĩnh vực đất đai, khoáng sản và tài nguyên nước, đã phát hiện 05 đơn vị sai phạm và xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 380 triệu đồng.

- Tổ chức lễ mít tinh hưởng ứng Ngày quốc tế Đa dạng sinh học, Ngày đại dương thế giới và Ngày môi trường thế giới. Triển khai thực hiện 03 dự án về lĩnh vực môi trường theo đúng tiến độ. Kiểm tra, đôn đốc các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn nộp phí Bảo vệ Môi trường đối với nước thải công nghiệp; kết quả thu được của 5 đơn vị với số tiền 464,995 triệu đồng.

11. Về cải cách hành chính

Triển khai thực hiện đồng bộ các kế hoạch về cải cách hành chính nhà nước, cải cách công vụ công chức, Đề án văn hóa công vụ trên địa bàn tỉnh. Tổ chức đánh giá và công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2018 của các sở, ban, ngành, các cơ quan ngành dọc Trung ương và UBND các huyện, thành phố. Tổ chức 06 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cải cách hành chính cho cán bộ, công chức thuộc 06 huyện. Tiến hành kiểm tra công vụ công chức đợt I/2019 đối với 04 đơn vị, kiểm tra công tác cải cách hành chính tại 04 huyện. Duy trì thực hiện tốt hoạt động của Trung tâm hành chính công tỉnh. Trong 9 tháng, đã tiếp nhận 68.556 hồ sơ (trong đó tiếp nhận trực tuyến 370 hồ sơ), đã giải quyết 62.386 hồ sơ, trong đó tỷ lệ hồ sơ giải quyết trước hạn là 67,1%, đúng hạn là 14,7%, giải quyết quá hạn là 9,2%, chưa giải quyết là 9%. Xây dựng và ban hành đề án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh.

12. Về công tác đối ngoại

Tiếp tục được đẩy mạnh, củng cố, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực trọng tâm là kinh tế đối ngoại, tăng cường hợp tác với các đối tác, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, giữ vững an ninh, quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Tổ chức đón tiếp 67 đoàn/397 lượt người nước ngoài đến thăm và làm việc tại Hà Giang; cho phép 92 đoàn với 463 lượt cán bộ, công chức đi công tác nước ngoài. Tổ chức đoàn đại biểu của tỉnh tham dự Chương trình quảng bá địa phương Việt Nam tại Hoa Kỳ (VPR USA 2019); tổ chức thành công 03 Hội nghị cấp tỉnh về triển khai công tác đối ngoại năm 2019; 01 Hội thảo quốc tế triển khai dự án phòng chống mua, bán người trên địa bàn tỉnh và ký kết biên bản ghi nhớ với tổ chức Trẻ em Rồng Xanh (Úc); ký mới 05 thỏa thuận quốc tế; tiếp tục triển khai thực hiện 22 thỏa thuận đang còn hiệu lực.