Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Tình hình KT - XH tỉnh Hà Giang tháng 10 năm 2019

Tình hình KT - XH tỉnh Hà Giang tháng 10 năm 2019

1. Sản xuất nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn

a) Sản xuất nông, lâm nghiệp

Chỉ đạo các địa phương tập trung thu hoạch vụ Mùa; đã thu hoạch được 17.091 ha lúa (đạt 60,5% diện tích gieo cấy); 7.850 ha ngô Hè thu (đạt 80% diện tích); các cây trồng khác như đậu tương, lúa cạn thu hoạch được khoảng 40% diện tích. Đồng thời, khẩn trương triển khai làm đất và chuẩn bị giống, vật tư đảm bảo cho gieo trồng các cây màu vụ Đông năm 2019 -2020; đã tiến hành đổ ải được 1.350 ha. Tập trung chăm sóc và bắt đầu thu hoạch cam, quýt; sản lượng cam thu hoạch trong tháng đạt khoảng 1.600 tấn; sản lượng chè thu hái khoảng 1.510 tấn, tương đương cùng kỳ năm trước.

Chủ động các biện pháp phòng chống đói, rét và dự trữ thức ăn cho gia súc vụ Đông Xuân 2019 - 2020; tổ chức tiêm phòng được 36.830 lượt con gia súc và 2.830 lượt con gia cầm; lũy kế tiêm phòng được 1,2 triệu lượt con gia súc và 25,9 nghìn lượt con gia cầm. Tuy nhiên, trong tháng xuất hiện bệnh tụ huyết trùng lợn xảy ra với 13 con mắc bệnh, có 05 con bị chết. Tăng cường công tác chỉ đạo trong phòng, chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi; tuy nhiên dịch vẫn chưa được khống chế triệt để; trong tháng sử dụng 4.756 lít hoá chất và 3.654 kg vôi bột thực hiện phun tại 8.122 hộ, 72 chợ, và 169.800 lượt phương tiện; lũy kế đã sử dụng 42.581 lít và 132.565 kg vôi bột. Tình hình dịch tả lợn Châu phi (tính đến ngày 21/10/2019): Tổng số lợn chết và tiêu hủy 10.981 con, trọng lượng trên 455,6 tấn. Đến nay dịch đã xuất hiện tại 80 xã trên địa bàn tỉnh; trong đó có 33 xã đã qua 30 ngày không phát sinh thêm dịch (18 xã đã thực hiện công bố hết dịch; 15 xã chưa làm thủ tục công bố hết dịch); 47 xã vẫn còn dịch (trong đó có 20 xã đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh dịch).

Về lâm nghiệp, trong tháng trồng được 117,2 ha rừng tập trung; lũy kế trồng được 1.270,8 ha, đạt 81,8% kế hoạch. Thực hiện chăm sóc 3.844,9 ha; khoán bảo vệ rừng 173.696,4 ha. Tăng cường tuyền truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng được 5.124 hộ gia đình, cá nhân. Sản lượng gỗ khai thác trong kỳ ước đạt 1.850 m³, tăng 0,27%; lũy kế đạt 198.498 m³, tăng 11,4% so với cùng kỳ. Tình trạng vi phạm pháp luật lâm nghiệp vẫn xảy ra, đã phát hiện và xử lý 20 vụ vi phạm luật lâm nghiệp.

b) Chương trình xây dựng nông thôn mới và công tác quy tụ dân cư

Tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới tỉnh Hà Giang giai đoạn 2010-2020. Tổ chức ra quân xây dựng nông thôn mới được 400 lượt với 16.400 người tham gia. Triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, đã làm mới 79 km đường bê tông các loại; mở mới 8,4 km đường đất đá; nâng cấp 115 km đường giao thông các loại; cải tạo, xây dựng 45 phòng học. Nhân dân đã hiến 11.020 m2 đất, đóng góp 22.867 ngày công lao động. Phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới” đã huy động được 1,4 tỷ đồng; quyên góp hỗ trợ xây dựng được 2,6 tỷ đồng. Kết quả thực hiện nâng tiêu chí nông thôn mới năm 2019, tổng số tiêu chí đạt 2.011 tiêu chí, tăng 51 tiêu chí so với tháng trước.

Công tác quy tụ, bố trí dân cư được các huyện, thành phố đẩy nhanh tiến độ triển khai. Đến nay đã thực hiện được 3.254 hộ/3.269, đạt 99,5% kế hoạch; kinh phí đã giải ngân được 59,145 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch vốn. Ngoài ra, đối với 85 hộ bổ sung vào chỉ tiêu quy tụ các hộ nằm trong vùng nguy cơ thiên tai năm 2019 tại 03 huyện Mèo Vạc, Yên Minh, Quang Bình; đã thực hiện được 26 hộ, đạt 30,5%.

2. Sản xuất công nghiệp

Hoạt động sản xuất công nghiệp có sự sụt giảm so với tháng trước. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp so với tháng trước giảm 10,03% do chỉ số sản xuất ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt so với tháng trước giảm tương đối lớn (giảm 23,9%), tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp vẫn tăng 9,22%. Tính chung 10 tháng Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,01% so với cùng kỳ; trong đó ngành khai khoáng vẫn giảm so với cùng kỳ; các ngành khác đều có mức tăng trưởng khá.

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh đạt 354,7 tỷ đồng, giảm 6,85% so với tháng trước, tăng 11,75% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 3.097,4 tỷ đồng. Theo giá thực tế đạt 644,7 tỷ đồng, giảm 6,66% so với tháng trước, tăng 13,32% so với cùng kỳ; 10 tháng đạt 5.233,2 tỷ đồng. Các sản phẩm có sản lượng sản xuất trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Chè tăng 15,28%, bê tông tươi tăng 14,03%, cấu kiện làm sẵn cho xây dựng tăng 9,33%, đá xây dựng tăng 8,83%, sản phẩm in khác tăng 9,68%, điện sản xuất tăng 7,66%,....

3. Về thực hiện vốn đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý đạt 241,6 tỷ đồng, tăng 4,9% so với tháng trước; tăng 58,93% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng đạt 1.537,9 tỷ đồng, tăng 72,2% so với cùng kỳ. Giá trị thực hiện vốn đầu tư chủ yếu tập trung trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, ưu tiên đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội.

Tính đến ngày 20/10/2019, giải ngân các nguồn vốn (bao gồm cả nguồn vốn được phép kéo dài) qua Kho bạc Nhà nước là 2.199,18 tỷ đồng, đạt 51% kế hoạch; trong đó: Nguồn vốn năm 2018 kéo dài sang năm 2019 là 333,419 tỷ đồng, đạt 35%; nguồn vốn năm 2019 là 1.433,77 tỷ đồng, đạt 65%; nguồn sự nghiệp có tính chất đầu tư 337,196 tỷ đồng, đạt 74% kế hoạch; nguồn vốn ODA 187,552 tỷ đồng, đạt 23,7%; nguồn vốn khác 94,795 tỷ đồng, đạt 31%.

4. Tài chính, tín dụng

- Về thu – chi ngân sách: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng đạt 1.169,5 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng đạt 12.772,9 tỷ đồng. Trong đó, thu NSNN trên địa bàn tháng 10 đạt 204,3 tỷ đồng, lũy kế 10 tháng đạt 1.592,8 tỷ đồng, đạt 72,4% kế hoạch tỉnh giao. Một số khoản thu đạt thấp như: Thu tiền sử dụng đất (cấp quyền) đạt 28,7% kế hoạch; Thu phí, lệ phí đạt 62,6% kế hoạch; Thu khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh đạt 67,2% kế hoạch. Chi ngân sách đạt 1.172,2 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng đạt 10.272,3 tỷ đồng, đạt 70% kế hoạch.

- Về hoạt động tín dụng: Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng VND ổn định so với tháng trước. Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng đến hết tháng 10 ước đạt 22.039 tỷ đồng, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 11.548 tỷ đồng, riêng trong tháng huy động được 203 tỷ đồng. Tổng đầu tư tín dụng cho nền kinh tế ước đạt 21.130 tỷ đồng, tăng 208 tỷ đồng so với tháng trước. Tình hình dư nợ một số chương trình tín dụng như sau:

+ Cho vay nông nghiệp, nông thôn: Dư nợ đạt 13.472 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 75 tỷ đồng; so với cuối năm 2018 tăng 594 tỷ đồng. Trong đó: Thực hiện thu hồi các khoản cho vay theo Nghị quyết 209/2015/NQ-HĐND và 86/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh được 15,5 tỷ đồng, dư nợ còn lại 465 tỷ đồng; Dư nợ cho vay theo Nghị quyết 29/2018/NQ-HĐND ước đạt 13 tỷ đồng, tăng 2,1 tỷ đồng so với tháng trước.

+ Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp: Dư nợ 3.286 tỷ đồng, không phát sinh nợ xấu.

+ Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai 14 chương trình tín dụng chính sách cho các hộ nghèo và các đối tượng chính sách vay vốn phát triển sản xuất; tổng dư nợ của ngân hàng đạt 2.890 tỷ đồng, tăng 05 tỷ đồng so với tháng trước, tăng 239 tỷ đồng so với cuối năm 2018.

5. Thương mại, dịch vụ và du lịch

- Hoạt động thương mại và doanh thu dịch vụ trên địa bàn khá ổn định; giá cả hàng hóa tăng nhẹ nhưng không làm ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 941,5 tỷ đồng, tăng 6,13% so với tháng trước và tăng 10,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng đạt 8.782,2 tỷ đồng, tăng 13,83% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10 tăng 0,08% so với tháng trước, tăng 0,23% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 1,15% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng giảm 0,8% so với tháng trước; tăng 21,21% so với cùng kỳ; bình quân 10 tháng tăng 6,8% so với cùng kỳ.

- Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tiếp tục gặp nhiều khó khăn; tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 24,3 triệu USD, giảm 12,27% so với tháng trước, giảm 37,21% so với cùng kỳ; trong đó giá trị xuất khẩu đạt 14,8 triệu USD, nhập khẩu đạt 9,5 triệu USD. Luỹ kế 10 tháng đạt 290,8 triệu USD, đạt 52,8% kế hoạch. Tổng số thu thuế xuất nhập khẩu đạt 17,2 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng đạt 171,2 tỷ đồng, đạt 85,6% kế hoạch.

- Về hoạt động vận tải: Doanh thu vận tải, bốc xếp trong tháng 54,7 tỷ đồng, đưa doanh thu 10 tháng đạt 512,3 tỷ đồng, tăng 12,74% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng vận chuyển hành khách 257 nghìn người, tăng 15,46% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 38,2 triệu người.km, tăng 17,44%. Khối lượng hàng hoá vận chuyển 215,9 nghìn tấn, tăng 8,5%; khối lượng hàng hoá luân chuyển 9,56 triệu tấn.km, tăng 12,07%.

-  Về hoạt động du lịch: Trong tháng, lượng khách du lịch đến với Hà Giang tăng cao, đạt 137.127 lượt người (khách quốc tế 11.323 lượt; khách nội địa 125.084 lượt người); doanh thu đạt 147,5 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng thu hút 1.085.597 lượt khách, đạt 83,5% kế hoạch. Tổ chức Không gian văn hóa, du lịch tỉnh Hà Giang năm 2019 tại Hà Nội. Tham gia liên hoan du lịch làng nghề ẩm thực tại tỉnh Hà Nam.

6. Phát triển DN, HTX và thu hút đầu tư

- Trong tháng, thực hiện cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 04 dự án với tổng mức vốn đăng ký đầu tư là 25,5 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng cấp mới cho 30 dự án với tổng vốn gần 4.360 tỷ đồng. Phối hợp tổ chức khảo sát thực tế địa điểm dự kiến đầu tư dự án Xây dựng nhà máy sản xuất và chế biến lá Giang của Công ty cổ phần Tập đoàn Tonkin; dự án đầu tư thương mại, dịch vụ và du lịch tại huyện Mèo vạc của Công ty CP Tập đoàn Ecopark. Tiếp tục triển khai các nội dung dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái núi Mỏ Neo của Tập đoàn FLC.

- Tổ chức thành công Lễ kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), gặp gỡ và đối thoại với gần 200 doanh nghiệp tiêu biểu trên địa bàn tỉnh; đồng thời tổ chức cắt băng khai trương “Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp” tỉnh Hà Giang. Triển khai tập huấn kỹ năng quản trị kinh doanh và kết nối cố vấn khởi nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong tháng, thực hiện cấp mới đăng ký kinh doanh cho 23 doanh nghiệp và 15 đơn vị trực thuộc với số vốn đăng ký 204,85 tỷ đồng; 16 doanh nghiệp hoạt động trở lại; tuy nhiên có 05 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, 03 doanh nghiệp và 06 đơn vị trực thuộc giải thể. Lũy kế 10 tháng có 153 doanh nghiệp và 68 đơn vị trực thuộc thành lập mới; 83 doanh nghiệp và 03 đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại; 77 doanh nghiệp và 07 đơn vị trực thuộc tạm ngừng hoạt động; 17 doanh nghiệp và 22 đơn vị trực thuộc giải thể. Toàn tỉnh hiện có 1.890 doanh nghiệp và 553 đơn vị trực thuộc. Công tác phát triển kinh tế tập thể được quan tâm, trong tháng có 05 HTX thành lập mới; lũy kế 10 tháng có 49 HTX thành lập mới, 06 HTX giải thể; tổng số HTX toàn tỉnh là 666 HTX.

7. Về quản lý tài nguyên - môi trường; hoạt động khoa học - công nghệ

- Tài nguyên và môi trường: Công tác quản lý đất đai được tăng cường; triển khai kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019 trên địa bàn tỉnh; thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất cho 06 hồ sơ. Chỉ đạo các huyện, thành phố tổng hợp kết quả điều tra xác định giá đất thị trường và báo cáo đề xuất giá đất để phục vụ công tác xây dựng bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh; Phê duyệt giá đất cụ thể cho 06 dự án. Thực hiện cấp 01 giấy phép thăm dò khoáng sản; phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho 04 điểm mỏ; xây dựng kế hoạch kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật đối với các chủ dự án khai thác khoáng sản, hoạt động thủy điện. Tăng cường công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường; tổ chức ký kết hương ước bảo vệ môi trường tại 9/9 thôn bản của xã Kim Ngọc, huyện Bắc Quang; thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của 06 hồ sơ.

- Khoa học và công nghệ: Sửa đổi và ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng khoa học tỉnh. Tổ chức thẩm định cấp tỉnh 01 đề tài; ký hợp đồng thực hiện 01 nhiệm vụ. Thẩm định 01 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ. Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của 05 dự án. Tiếp tục phối hợp thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và phát triển các loài dược liệu trong danh mục ưu tiên của tỉnh Hà Giang”.

8. Giao thông, xây dựng

- Giao thông: Chỉ đạo làm tốt công tác bảo trì đường bộ đối với các tuyến đường quốc lộ; đường cột cờ Quốc gia Lũng Cú; các tuyến đường tỉnh và đường huyện. Thường xuyên kiểm tra các tuyến đường, công trình cầu, phát quang hai bên lề đường; đặc biệt là các tuyến đường vùng cao, vùng sâu. Tổng giá trị khối lượng thực hiện đạt 27,289 tỷ đồng, giải ngân 31,032 tỷ đồng. Công tác kiểm định phương tiện được thực hiện tốt, trong tháng đã kiểm định cho 1.267 xe, đạt tiêu chuẩn 1.044 xe. Duy trì công tác kiểm soát tải trọng xe, đã kiểm tra 1.492 lượt phương tiện, lập biên bản vi phạm hành chính đối với 09 phương tiện.

- Xây dựng: Ban hành quyết định Quy định phân cấp thẩm quyền thẩm định dự án; cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu đưa 01 công trình vào sử dụng. Thẩm định nhiệm vụ, dự toán Đồ án quy hoạch cho 01 hồ sơ; cấp phép xây dựng cho 01 hồ sơ. Rà soát các quy hoạch, trình tự thủ tục đầu tư, đất đai và rừng liên quan đến các dự án tại khu vực núi Mỏ Neo.